Trang ChínhCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Chúc lớp trưởng một ngày bình yên, êm ấm bên người mà mình yêu. Nhưng nhớ đừng làm gì quá giới hạn của nó Giởn thôi ko biết lớp trưởng nhà ta có em nào chưa nửa ^^ Thay mặt chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội, các bộ trưởng, các ban ngành, 84 triệu người VN, 6 tỷ dân trên thế giới, chúc mừng ...Chúc Mừng Sinh Nhật Các Bạn XHHK33 «´¨`•..¤ Nguyễn Thanh Hà 05-05-1990 ¤..•´¨`» Giáp Thanh Phúc 13-05-1988 (¸.•'´(¸.•'´¤Lương Thị Thiếp 29-05-1989 ¤`'•.¸)`'•.¸) Huỳnh Đình Tuấn Vũ 01-05-1991 «´¨`•..¤Huỳnh Đình Tuấn Vũ 01-05-1991¤..•´¨`» thanh cong
Very Happy CHÀO CÁC BẠN,VÌ LÝ DO RIÊNG THỜI GIAN VỪA QUA VÌ NHIỀU CÔNG VIÊC MINH KO THỂ DÀNH NHIỀU TIME ĐỂ XÂY DỰNG DIÊN ĐÀN ĐC.THỜI GIAN NÀY MONG ĐC GIÚP ĐỞ CỦA CÁC THÀNH VIÊN VỀ MẶT NỘI DUNG ĐỂ XÂY DỰNG DD XÃ HỘI HỌC NGÀY CÀNG LỚN MẠNH.Twisted Evil
ĐÔI BÓNG XHH MUÔN NĂM CHÚNG TÔI LUÔN CỖ VŨ HẾT MÌNH...TỰ TIN CHIẾN THẮNG.HIHI XÃ HỘI HỌC VÔ ĐỊCH ^^ thanh cong

Share | 
 

 PHUONG PHAP LUAN NGHIEN CUU XA HOI HOC CUA WEBER (Phan 1 - Tiep theo))

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
tuanlong
Super mod


Tổng số bài gửi : 159
Reputation : 4
Join date : 20/12/2009
Age : 26
Đến từ : HUE, LOP XHH-K33, ĐHKH-HUE

Bài gửiTiêu đề: PHUONG PHAP LUAN NGHIEN CUU XA HOI HOC CUA WEBER (Phan 1 - Tiep theo))   Tue Oct 12, 2010 4:02 pm

[...]

hoặc là phương tiện hoặc là mục đích. Chỉ trong quan hệ với những phạm trù như vậy, ta mới có thể hiểu các đối tượng thuộc loại này” (1968; 7).
Theo chức năng và cấu trúc lôgíc của sơ đồ phương tiện-mục đích thì một hành động xã hội có thể có quan hệ với nghĩa của nó một cách khách quan (Weber 1982, 185; 429). Weber nói: “Vấn đề về sự thích đáng của phương tiện cho việc đạt được một mục đích đã cho là chấp nhận được một cách không thể hoài nghi đối với sự phân tích khoa học” (1949, 52).
Nghĩa của hành động xã hội là của một cá nhân, điều đó có nghĩa nó mang tính chủ quan. Nghĩa chủ quan “chỉ tồn tại như là hành động của một hay nhiều con người cá thể” (Weber 1968, 13). Sự hiểu trong xã hội học luôn là một sự hiểu từ những điểm nhìn chủ quan cá biệt về nghĩa (Weber 1982, 181). Weber có bàn đến điểm nhìn của mình về nghĩa chủ quan đối với xã hội học tôn giáo: “Những quá trình diễn biến bên ngoài của hành động tôn giáo khác nhau đến nỗi một sự hiểu về hành động này chỉ có thể được thành tựu từ điểm nhìn của những kinh nghiệm, những ý niệm, và những mục đích chủ quan của những cá nhân có liên quan tới – tóm lại, từ điểm nhìn về “nghĩa” của hành động tôn giáo” (1968, 399).
Tuy nhiên, sự hiểu về nghĩa đang tồn tại chủ quan có giới hạn của nó, đó là, “đặc điểm tản mạn và có tính giả thuyết hơn của những kết quả của nó” (Weber 1968, 15). Sự lý giải tùy tiện của nghĩa chủ quan đều là nguy hiểm. Để khách quan, trước hết, ta cần gắn nghĩa với hành động xã hội một cách thỏa ứng, và không cần tách rời ra chỉ những hoàn cảnh tâm lý hay những hoàn cảnh vật chất với những quan hệ (Weber 1982, 429). Thứ hai, ta cần so sánh những mối quan hệ với “nhiều nhất có thể được những hành động xã hội tương ứng trong lịch sử hay trong hiện nay (Weber 1968, 10). Weber bàn tới điểm này như sau: “Sự kiểm chứng về việc lý giải chủ quan bằng cách so sánh với quá trình diễn biến cụ thể của những sự kiện, như trong trường hợp của tất cả các giả thuyết, là không thể thiếu được” (1968, 10).
Thứ ba, ta cần lý giải nghĩa từ “bức tranh tổng thể” về bối cảnh văn hóa (Weber 1946, 294). Vì những mục đích sơ bộ này của sự so sánh và sự thấu hiểu, những quan sát tập thể và chức năng về hành động xã hội có thể có ích và thậm chí là không thể thiếu được. Trước khi đi đến phân tích kiểu hình lý tưởng về nghĩa chủ quan, nghiên cứu này cần phải bàn tới sự quan sát chức năng-tập thể.
3. Những quan sát chức năng
3.1. Định nghĩa và ý nghĩa
Một quan sát chức năng được dựa trên tiền giả định rằng các hiện tượng xã hội tương ứng với “những chức năng” và “những nhu cầu” của cơ thể xã hội. Những quan sát chức năng được Durkheim chứng minh khá rõ ràng. Ông định nghĩa thuật ngữ chức năng như sau: “Chức năng diễn tả mối quan hệ hiện tồn giữa những sự vận động [xã hội] này với những nhu cầu tương ứng của cơ thể” (1933, 49). Quan sát chức năng cũng tiền giả định xã hội như là nhân cách tập thể có một ý chí và một mục đích, “một tổng thể siêu-thường nghiệm được điều hành bởi những chuẩn mực” (Weber 1949, 111). Durkheim giải thích rõ hơn: “Chúng tôi sử dụng một cách chính xác từ “chức năng”, hơn là dùng từ “mục đích” hay “ý định,” bởi vì những hiện tượng xã hội nói chung không tồn tại cho những kết quả có ích mà họ tạo ra. Chúng tôi phải xác định liệu có một sự tương ứng nào giữa những sự kiện đang xét với những nhu cầu chung của cơ thể xã hội (1938, 95).
Những quan sát chức năng được dựa vào những kiểu hình trung bình của hành động xã hội, là kiểu hình tiền giả định tính cố kết và tính đồng phục của hành động quần chúng như là sự tương ứng với những bộ phận nguyên tử của tổng thể hữu cơ. Sự kiện thường nhật ít khi xảy ra của một kiểu hình cá biệt và ngoại lệ của hành động xã hội bị loại trừ hay bị bỏ qua vì lợi ích của kiểu hình trung bình của hành động đám đông. Một trường hợp ngoại lệ được xem như sự thiếu đi kiểu hình trung bình của hành động xã hội. Sự quan sát chức năng với những khái niệm tập thể và những kiểu hình trung bình của nó giữ vai trò như là những mục đích sơ bộ và có tính chất trình bày cho xã hội học về sự hiểu. Weber giải thích ý nghĩa của quan sát chức năng như sau: “Trước hết, khung quy chiếu chức năng này thuận lợi cho những mục đích của sự minh họa thực tiễn và cho sự định hướng tạm thời. Ở phương diện này, nó không chỉ có ích mà còn tuyệt đối cần thiết. Thứ hai, trong những trường hợp nào đó đây là phương cách sẵn có duy nhất để xác định đúng những quá trình của hành động xã hội, điều quan trọng là phải hiểu để giải thích một hiện tượng đã cho. (1968, 15).
Quan sát chức năng là bước đầu cố gắng hiểu cho có nghĩa về thực tại thường nghiệm.
3.2. Sự nguy hiểm của phân tích chức năng
Tuy nhiên, nếu một phân tích chức năng được bao hàm trong những phán đoán-giá trị, nó trở nên nguy hiểm cho những chân lý khách quan về thực tại thường nghiệm. Weber chỉ ra sự nguy hiểm của phân tích chức năng như sau: “Nếu giá trị nhận thức [chức năng] của nó được đánh giá quá cao và những khái niệm của nó được cụ thể hóa một cách không chính đáng, thì nó có thể rất nguy hiểm” (1968, 15).
Phân tích chức năng của Durkheim được bao hàm trong những phán đoán-giá trị và vượt quá lĩnh vực của bộ môn thường nghiệm. Ông đã đánh giá quá cao sự phân tích, tuyên bố rằng “mọi phương diện của một xã hội – những thể chế, những vai trò, những chuẩn mực, v.v… – phải giữ vai trò là một mục đích và tất cả những phương diện ấy là không thể thiếu được cho sự tồn tại lâu dài của xã hội” (1938, 17). Durkheim tuyên bố rằng tiêu chuẩn của tư cách đạo đức phải bắt nguồn từ những sự kiện xã hội: “Ý niệm của ta về đạo đức phải được rút ra từ sự biểu hiện quan sát được của những quy tắc đang vận hành dưới mắt ta, những quy tắc tái tạo ra chúng trong thể thức có hệ thống” (1938, 23).
Với mục đích này, Durkheim đặt ra tiêu chuẩn của những phán đoán-giá trị từ điểm nhìn của quy định y học: “Với những xã hội cũng như với những cá nhân, sức khỏe là tốt và đáng mong muốn; bệnh tật, trái lại, là xấu và phải được tránh” (1938, 49).
Đến lượt mình, ông lý giải rằng những kiểu hành động xã hội trung bình là bình thường và khỏe mạnh; những kiểu hành động xã hội khác thường là bệnh lý và bệnh tật: “Kiểu bình thường sáp nhập với những kiểu trung bình, và mọi sự lệch lạc với tiêu chuẩn về sức khỏe là một hiện tượng bệnh tật” (1938, 56).
Vì thế, Durkheim cố gắng gán một nội dung bản thể thường nghiệm cho chuẩn mực đạo đức. Ông bác bỏ quy luật luân lý tiên nghiệm, và thay vào đó, giả định rằng những quy luật luân lý là có thể quan sát được trong các sự kiện xã hội. Weber phản đối giả định như vậy của Durkheim: “Thái độ này [khoa học đạo đức với những cơ sở thường nghiệm] tìm cách tước bỏ những chuẩn mực đạo đức của đặc tính hình thức [siêu nghiệm] của chúng và qua sự sáp nhập toàn bộ những giá trị văn hóa vào lĩnh vực đạo đức cố gắng gán một nội dung bản thể [thường nghiệm] cho những chuẩn mực đạo đức” (1949, 52).
Nỗ lực của Durkheim về những phán đoán-giá trị trở thành không chỉ ra khỏi chân lý khoa học, mà còn bác bỏ giá trị khách quan của một cá nhân. Ông bác bỏ giá trị của trách nhiệm cá nhân về những phán đoán và những hành động nhân danh nhân cách tập thể và tiêu chí xã hội của những phán đoán-giá trị. Nghiên cứu này phản đối những giả định có tính tập thể như vậy. Những nghiên cứu xã hội học phải tránh cạm bẫy này.
3.3. Giới hạn của quan sát chức năng
Sau cùng, những quan sát chức năng “chỉ là sự khởi đầu của phân tích xã hội học” (Weber 1968, 15). Bằng sự phân tích chức năng, ta “chỉ có thể quan sát những quan hệ chức năng có liên quan và sự khái quát hóa trên cơ sở những quan sát” (Weber 1968, 15). Tuy nhiên, quan sát chức năng không thể phân tích “ý nghĩa văn hóa và những quan hệ nhân quả của nó” bởi vì ý nghĩa văn hóa không thể được suy luận từ tính đồng phục và tính chung của những luật lệ và những chức năng xã hội học (Weber 1949, 75). Chỉ có phân tích kiểu hình lý tưởng là có thể hoàn thành nhiệm vụ này, vượt “khỏi việc chứng minh đơn thuần những quan hệ chức năng và những tính đồng phục” (Weber 1968, 15).
(còn tiếp)
Hoàng Thị Minh Thư dịch


________________________________________
[1] Weber tuyên bố: "Archiv [Archives] sẽ không ngừng đấu tranh chống lại sự tự-dối mình nghiêm trọng đang khẳng định rằng nhờ sự tổng hợp một số quan điểm ủng hộ là ta có thể đạt được những chuẩn mực thực tiễn của tính hiệu lực khoa học. Việc đấu tranh này là cần thiết bởi lẽ, vì sự tự-dối mình như thế nhằm che đậy những tiêu chuẩn riêng của nó về giá trị bằng những thuật ngữ thuyết tương đối, nó tỏ ta nguy hiểm đối với sự tự do nghiên cứu hơn so với niềm tin ngây thơ trước đây về những sự ngang bằng nhau trong tính có thể chứng minh khoa học về những giáo điều của chúng” (1949, 58).
[2] Nghiên cứu này dựa trên nhận thức luận của Kant. Kant đã phát hiện và trình bày giới hạn của quan năng nhận thức của con người. Theo Kant, trực quan cảm tính của con người không có một sự tri giác nào về phẩm tính bên ngoài, không biến đổi và siêu nghiệm của đối tượng. Trực quan cảm tính là biểu tượng đa dạng và mang tính chủ quan về đối tượng, chứ không phải là tri giác về cái bản chất.
[3] Durkheim cũng bỏ qua sự nghiên cứu về cái bản chất: “nó [khoa học] không thể nào nhằm đến một phát biểu về bản chất của thực tại (1938, 42).
[4] Đối với Marx, lực lượng vật chất của sản xuất “ luôn luôn dựa vào cơ sở hiện thực của lịch sử; nó không giải thích thực tiễn từ tư tưởng mà giải thích sự hình thành của tư tưởng từ thực tiễn vật chất (1978, 164)
[5] Soren Kierkegaard viết ra tư tưởng của ông về sự phán đoán về hành động của người khác: "Kinh Thánh dạy: “Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán” [Matthew 7]. Lời này được diễn tả theo hình thức một sự cảnh báo, một sự khuyên răn, nhưng đồng thời đó là một sự bất khả thi. Người này không thể xét đoán người kia về mặt đạo đức, bởi lẽ anh ta không thể hiểu mình về mặt đạo đức, bởi lẽ anh ta không thể hiểu mình ngoại trừ như là sự khả thi. Do đó, khi có ai cố gắng xét đoán người khác, thì sự diễn tả cho sự bất lực của mình đó là anh ta chỉ đơn thuần xét đoán chính mình” (Concluding Unscientific Postscript, 1846).
[6] Bộ môn mang tính quy phạm, nhất là đạo đức học, chú trọng đến những gì mà ta “phải làm’ mà không xét đến “cái là gì” của tập quán, truyền thống, và quy luật của thế giới thường nghiệm. Nghiên cứu này xuất phát từ tiền giả định của Kant rằng quy luật luân lý về cái “phải là” là quy luật tiên nghiệm (siêu nghiệm), chứ không phải là những sự kiện xã hội theo nghĩa của Durkheim, hay lôgíc của cấu trúc vật chất theo nghĩa của Marx. Khoa học xã hội không thể chứng minh hay bác bỏ giá trị hiệu lực có tính chuẩn mực của Bài giảng trên núi.
[7] Weber cũng phân biệt phân tích thoát ly khỏi phán đoán-giá trị với sự bàn luận học thuật về việc phán đoán-giá trị: “Ta không chắc chắn rằng những phán đoán-giá trị phải được rút ra khỏi sự bàn luận khoa học đơn thuần nói chung, vì trong phân tích sau, chúng dựa trên những lý tưởng nào đó và do đó là mang tính chủ quan từ căn nguyên. (1949, 52).
[8] Stephen Kalberg gọi quan điểm của Weber là “phương pháp luận quy về cá nhân”, hay “phương pháp cá nhân luận” (methodological individualism) Kalberg đối lập phương pháp quy về cá nhân của Weber với phương pháp quy về tập thể của Durkheim: “Cá nhân hành động, theo Weber, chứ không phải những cơ thể xã hội hay tập thể luận (collectivism). Không bao giờ thực tại xã hội có thể được giải thích một cách thích đáng nếu những con người được xem như là chỉ đơn thuần đáp ứng cho những quy luật khoa học, những sự kiện xã hội của Durkheim, những lực tiến hóa, hay cái được cho là cần thiết cho các xã hội để thực hiện những chức năng nào đó” (tr. 25). Tuy nhiên, ta nên lưu ý rằng phương pháp của Weber không xem cá nhân luận (individualism) là một hệ thống những giá trị. Weber nói: “Sẽ là hết sức sai lầm khi nghĩ rằng một phương pháp cá nhân luận nên bao hàm rằng một hệ thống cá nhân luận về các giá trị là gì theo bất cứ nghĩa gì có thể quan niệm được” (1968, 18).
[9] Thuật ngữ “hiểu” của Weber cũng dựa trên nhận thức luận của Kant, trong đó thuật ngữ này quy chiếu đến kết quả của việc suy tưởng từ sự nối kết giữa những khái niện và những trực quan cảm tính. Kant nói: “Những tư tưởng không có nội dung đều trống rỗng, những trực quan không có khái niệm là mù quáng” tr. 93).
[justify]
Về Đầu Trang Go down
 
PHUONG PHAP LUAN NGHIEN CUU XA HOI HOC CUA WEBER (Phan 1 - Tiep theo))
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Các phương pháp cập cầu
» Thiết bị lái tàu thủy
» Các bài toán chạy tàu
» Mỗi ngày 1 câu hỏi thi tốt nghiệp
» Ôn thi tốt nghiệp khoa ĐKTB

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: HỌC TẬP :: CHUYÊN NGÀNH XÃ HỘI HỌC-
Chuyển đến