Trang ChínhCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Chúc lớp trưởng một ngày bình yên, êm ấm bên người mà mình yêu. Nhưng nhớ đừng làm gì quá giới hạn của nó Giởn thôi ko biết lớp trưởng nhà ta có em nào chưa nửa ^^ Thay mặt chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội, các bộ trưởng, các ban ngành, 84 triệu người VN, 6 tỷ dân trên thế giới, chúc mừng ...Chúc Mừng Sinh Nhật Các Bạn XHHK33 «´¨`•..¤ Nguyễn Thanh Hà 05-05-1990 ¤..•´¨`» Giáp Thanh Phúc 13-05-1988 (¸.•'´(¸.•'´¤Lương Thị Thiếp 29-05-1989 ¤`'•.¸)`'•.¸) Huỳnh Đình Tuấn Vũ 01-05-1991 «´¨`•..¤Huỳnh Đình Tuấn Vũ 01-05-1991¤..•´¨`» thanh cong
Very Happy CHÀO CÁC BẠN,VÌ LÝ DO RIÊNG THỜI GIAN VỪA QUA VÌ NHIỀU CÔNG VIÊC MINH KO THỂ DÀNH NHIỀU TIME ĐỂ XÂY DỰNG DIÊN ĐÀN ĐC.THỜI GIAN NÀY MONG ĐC GIÚP ĐỞ CỦA CÁC THÀNH VIÊN VỀ MẶT NỘI DUNG ĐỂ XÂY DỰNG DD XÃ HỘI HỌC NGÀY CÀNG LỚN MẠNH.Twisted Evil
ĐÔI BÓNG XHH MUÔN NĂM CHÚNG TÔI LUÔN CỖ VŨ HẾT MÌNH...TỰ TIN CHIẾN THẮNG.HIHI XÃ HỘI HỌC VÔ ĐỊCH ^^ thanh cong

Share | 
 

 PHUONG PHAP LUAN CUA WEBER TRONG NGHIEN CUU XA HOI HOC (Phan 1)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
tuanlong
Super mod


Tổng số bài gửi : 159
Reputation : 4
Join date : 20/12/2009
Age : 26
Đến từ : HUE, LOP XHH-K33, ĐHKH-HUE

Bài gửiTiêu đề: PHUONG PHAP LUAN CUA WEBER TRONG NGHIEN CUU XA HOI HOC (Phan 1)   Tue Oct 12, 2010 3:58 pm

PHUONG PHAP LUAN CUA WEBER TRONG NGHIEN CUU XA HOI HOC
justify]
Moriyuki Abukuma
Hoàng Thị Minh Thư dịch


I. Giới thiệu
Nghiên cứu này luận chứng cho một phương pháp luận của Weber về nghiên cứu xã hội học, đối lập với phương pháp luận của Emile Durkheim và Karl Marx. Ba phương pháp luận này có những quan niệm và những ý niệm-giá trị (Wertideen) hoàn toàn khác nhau.
Nghiên cứu này không tùy tiện xử lý ba phương pháp luận này theo một phương cách rất cân đối. Đúng hơn, nghiên cứu này đấu tranh chống lại sự “tự-dối mình” về “sự tổng hợp vài quan điểm ủng hộ” (Weber 1948, 58)[1]. Trước hết, nghiên cứu này xem phương pháp luận của Max Weber như là quan điểm nền tảng của nghiên cứu xã hội học. Với những luận chứng tiếp theo, phương pháp luận của Durkheim và của Marx là để bổ sung thêm và mang tính phủ định, cho dù cả hai đều đạt đến những vấn đề mấu chốt của phương pháp luận. Rõ ràng là, nghiên cứu này thấy những luận chứng thực chứng của Durkheim chỉ ở trong sự quan sát chức năng, và của Marx chỉ trong việc xây dựng kiểu hình lý tưởng. Để làm rõ sự đối lập, nghiên cứu này chú trọng vào những dị biệt giữa Weber và Durkheim (nghĩa chủ quan đối lại nhân cách tập thể, sự sắp đặt trong tư tưởng đối lại những sự kiện xã hội, kiểu hình lý tưởng đối lại kiểu hình trung bình) và giữa Weber và Marx (những hoàn cảnh đối lại với bản chất, tính duy nhất đối lại quy luật phổ biến, ý niệm đối lại lợi ích, đấu tranh thế giới quan đối lại đấu tranh giai cấp). Nhưng trong phân tích sau cùng, nghiên cứu này bác bỏ các quan niệm và các giả định của Durkheim và của Marx nhân danh cho lương tâm và niềm tin.
Nghiên cứu này theo đuổi sứ mệnh của khoa học xã hội theo quan niệm của Weber như sau: “Mục tiêu của chúng tôi là hiểu tính duy nhất đặc trưng của thực tại mà ta đang chuyển động. Một mặt, chúng tôi muốn hiểu những quan hệ và ý nghĩa văn hóa của những sự kiện cá nhân trong những biểu hiện hiện thời của chúng, và mặt khác, hiểu những nguyên nhân của sự tồn tại của chúng về mặt lịch sử bằng cách này chứ không phải bằng cách khác” (1949, 72).
Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của khoa học văn hóa – gồm lịch sử, chính trị, xã hội học – là hiểu “cái lực lịch sử của ý niệm trong sự phát triển của cuộc sống xã hội” (Weber 1949, 54). Để hoàn thành nhiệm vụ này, công việc khoa học xã hội cần phải lấy những quan hệ nhân quả cụ thể giữa các ý niệm-giá trị văn hóa và sự phát triển của cuộc sống xã hội làm thuộc tính.
2. Những cơ sở của nghiên cứu xã hội học
2.1. Tiền giả định và khoa học xã hội
Bắt đầu bằng những luận chứng phương pháp luận, nghiên cứu này xét tuyên bố sau của Weber: “Không một khoa học nào hoàn toàn thoát ly khỏi các tiền giả định, và không một khoa học nào có thể chứng minh giá trị nền tảng của nó với những ai bác bỏ những tiền giả định này” (1946, 153).
Mọi mô tả về một sự kiện thường nghiệm không thể tránh khỏi tiền giả định. Thậm chí một đoạn trích đơn giản từ một tư liệu lịch sử phản ánh tiền giả định về tác giả của tư liệu ấy. Không có một mô tả nào mà không có tiền giả định. Nghiên cứu này bác bỏ giả định rằng “nhận thức về thực tại lịch sử có thể là hoặc nên là một bản sao không có sự tiền giả định về các sự kiện khách quan” (Weber 1949, 92). “Mọi nhận thức về thực tại văn hóa, có thể nói, luôn là sự nhận thức từ điểm nhìn đặc thù” (Weber, 1949, 81). Nghiên cứu này đối đầu với sự tự-dối mình của nhà nghiên cứu chủ trương “không có tiền giả định”, là người “tiếp cận một cách vô thức chủ đề của mình mà anh ta đã lọc ra từ vô vàn vấn để chọn lấy một phần nhỏ nhoi bằng việc nghiên cứu về những gì mà chính nhà nghiên cứu quan tâm” (Weber 1949, 82”.
Tiền giả định không thể được chứng minh bằng phương tiện khoa học; nó có thể “chỉ được lý giải khi quy chiếu đến lập trường cơ bản của nó về đời sống, cái mà ta phải bác bỏ hoặc chấp nhận theo lập trường cơ bản của mình về đời sống” (Weber 1946, 143). Tiền giả định là một niềm tin hay một sự xác tín. Không có lý do gì để chứng minh giá trị hiệu lực phổ quát của nó. Do đó, những luận chứng sau đây về phương pháp luận là trận đấu giữa những quan niệm, những giá trị và những niềm tin khác nhau, mà bất cứ ai nghiên cứu về xã hội học đều tiền giả định như là của chính mình. Không có phương pháp luận nào có giá trị hiệu lực khách quan xét như là phương pháp luận. Sự phân tích dựa trên những tiền giả định, những niềm tin và những ý niệm-giá trị nào chính là vấn đề về phương pháp luận. Tiền giả định về một phương pháp không thể nào là tiền giả định mang giá trị-trung tính. Mỗi phương pháp luận đều tiền giả định ý nghĩa (sinificance) và nghĩa (meaning) của những ý niệm-giá trị nào đó, tức là, những ý định và mục tiêu được đánh giá về giá trị.
2.2. Tính khách quan của nhận thức xã hội học
Từ sự xác tín trên, nghiên cứu này xét tiền giả định thứ nhất rằng có “những chân lý có giá trị hiệu lực một cách khách quan” của nhận thức khoa học xã hội (Weber 1949, 51). Weber nói: “Chúng ta lấy sự tồn tại của một kiểu nhận thức có hiệu lực một cách vô điều kiện trong khoa học xã hội, nghĩa là có một sự sắp xếp trong tư duy về thực tại xã hội thường nghiệm, làm điều kiện tiên quyết” (1949, 63).
Xã hội học của Weber hiểu sự nhận thức xã hội học khách quan như là “sự sắp xếp trong tư duy (denkende)”, có nghĩa là những kiến tạo khái niệm về thực tại thường nghiệm. Sự sắp xếp tư tưởng được kiến tạo dựa theo phạm trù “nghĩa” và sự biểu hiện thường nghiệm của nó (“Evidenz”) (Weber 1968, 5). Weber cho rằng: “Giá trị hiệu lực khách quan của mọi nhận thức thường nghiệm chỉ dựa trên việc sắp xếp thực tại được mang lại dựa theo những phạm trù, và những phạm trù này là chủ quan.
Tuy nhiên việc sắp xếp thực tại trong tư duy chỉ có thể có được từ những ý niệm-giá trị chủ quan nào đó làm động lực cho nhà nghiên cứu. Weber bàn đến các quan hệ giữa những ý niệm-giá trị và những thực tại thường nghiệm như sau: “Những ý niệm-giá trị này, về phần mìny, là có thể phát hiện và phân tích về mặt thường nghiệm như là những yếu tố của hành vi ứng xử có nghĩa của con người, nhưng giá trị hiệu lực của chúng không thể được diễn dịch từ những sự kiện thường nghiệm xét như là những sự kiện thường nghiệm. (1949, 111).
Đúng hơn, tính khách quan của việc sắp xếp trong tư duy dựa trên sự thỏa ứng của các quan hệ giữa những ý niệm-giá trị và thực tại. Tuy nhiên, nhận thức như thế chỉ có nghĩa đối với những ai nắm giữ giá trị. Weber lưu ý đến nét riêng biệt của nhận thức xã hội học: “Những phương tiện sẵn có cho khoa học của chúng ta không cung cấp được gì cho những ai mà chân lý này không có giá trị gì với họ” (1949, 110).
Do đó, chân lý có hiệu lực khách quan của nhận thức thường nghiệm là niềm tin và sự xác tín. Weber khai mở những vấn đề về các môn thường nghiệm: “Theo nghĩa nào đó, có “những chân lý có hiệu lực khách quan” trong những môn học về các hiện tượng xã hội và văn hóa không? Xét vì những biến đổi liên tục và môn học, những phương pháp của môn học, sự trình bày và tính hiệu lực của những khái niệm của môn học thì câu hỏi này là không thể tránh được. Chúng ta không tìm cách đưa ra những giải pháp mà đúng hơn là cố gắng khai mở những vấn đề” (1949, 51).
Như vậy, niềm tin vào những chân lý có hiệu lực khách quan của nhận thức xã hội học là tiền giả định thứ nhất của nghiên cứu này.
2.3. Giới hạn của sự nhận thức khoa học xã hội
Nhận thức xã hội học là nhận thức về “các quan hệ” của thực tại thường nghiệm. Quan năng nhận thức của con người không thể trình bày “bản chất” và “nghĩa khách quan” của thực tại, mà chỉ tri giác “điều kiện và tác động” và “nghĩa chủ quan” về thực tại.[2] Khái niệm hóa xã hội học chỉ kiến tạo nghĩa “thỏa ứng một cách chủ quan” và sự lý giải “hợp lý” về hành động xã hội, chứ không kiến tạo nghĩa “đúng đắn một cách khách quan” hay sự lý giải “đúng thật”. Trong khái niệm ‘nghĩa’, Weber phân biệt các khoa học thường nghiệm với các bộ môn quy phạm: “Dù thế nào đi nữa, nó [‘nghĩa’] cũng không quy chiếu tới một nghĩa ‘đúng đắn’ một cách khách quan hay một nghĩa mà nó ‘đúng thật’ theo nghĩa siêu hình học nào đó. Chính đây là cái phân biệt các khoa học thường nghiệm về hành động, như xã hội học và sử học, với các bộ môn giáo điều trong lĩnh vực đó, như luật học, lôgíc học, đạo đức học và mỹ học, là cái cố gắng xác minh những nghĩa “đúng thật” và nghĩa “hiệu lực” (1968, 4).
Về xã hội học tôn giáo, Weber chú trọng đến những điều kiện và những tác động, chứ không chú trọng đến bản chất: “Bản chất của tôn giáo thậm chí không phải là mối quan tâm của chúng tôi, khi quan tâm đến nó thì nhiệm vụ của chúng tôi là nghiên cứu những điều kiện và những tác động của một kiểu hành động xã hội cá biệt” (1968, 399).
Weber bỏ qua việc nghiên cứu điều tra “bản chất” của thực tại xã hội hay nghĩa “hiện thực” và các mối quan hệ nhân quả “đúng thật”.[3] Đây là một sự khác nhau cơ bản với nghiên cứu điều tra của Marx về “bản chất” của thực tại thường nghiệm. Theo Marx, xã hội là bản chất của con người: “Bản chất tự nhiên của con người chỉ tồn tại cho con người xã hội. Do đó, xã hội là sự thống nhất hoàn hảo trong bản chất của con người với tự nhiên, sự phục hồi thật sự của tự nhiên” (1844, Những bản thảo kinh tế và triết học).
Marx tiền giả định rằng các lực lượng sản xuất vật chất là cơ sở “hiện thực” của “bản chất” người: “Tổng số các lực lượng sản xuất này là cơ sở hiện thực của cái mà các triết gia đã quan niệm như là bản thể và bản chất của con người” (1978, 165).[4]
Marx cố đưa ra giải pháp “hiện thực” về sự đau khổ của con người bằng nhận thức của mình về “bản chất” của thực tại thường nghiệm. Với tư cách là một nhà cộng sản, Marx thuyết phục rằng những người cộng sản “làm cho sự tồn tại của mình hài hòa với bản chất của mình theo một phương cách thực tiễn, bằng một cuộc cách mạng” (1978, 168). Tôi kiên quyết bác bỏ giả định như vậy của Marx về nhận thức khoa học xã hội là nhận thức có thể tri giác bản chất của thực tại xã hội. Nghiên cứu này yêu sách sự giới hạn của quan năng nhận thức của con người, dù không có luận cứ khoa học nào cho yêu sách này.
2.4. Thoát ly khỏi những phán đoán về giá trị
Nghiên cứu này cũng tiền giả định rằng phân tích xã hội học nên thoát ly khỏi những phán đoán về giá trị. Nghiên cứu này yêu sách rằng sự phân tích thoát ly khỏi phán đoán về giá trị là “một đòi hỏi cấp bách của tính trung thực trí tuệ” (Weber 1942, 2).[5] Ta phải ý thức về “sự phân biệt về nguyên tắc (prinzinpielle) giữa nhận thức tồn tại, tức nhận thức về cái “đang là”, với nhận thức quy phạm, tức nhận thức về cái “phải là” (1949, 51). Weber bác bỏ giả định sai lầm rằng nhận thức thường nghiệm có thể dạy cho ta biết tiêu chí của những phán đoán về giá trị. Ông cho rằng: “Ta không thể biết được nghĩa của thế giới từ những kết quả phân tích của nó, nó quá hoàn hảo; đúng hơn nó phải ở vào một cái thế tạo nên bản thân nghĩa này. Cần phải thừa nhận rằng những quan niệm đổi mới về cuộc sống và vũ trụ có thể không bao giờ là những sản phẩm của việc gia tăng tri thức thường nghiệm” (1949, 57).
Nhiệm vụ của khoa học thường nghiệm là cung cấp những chân lý khách quan của nhận thức thường nghiệm, chứ không phải “cung cấp những chuẩn mực và những lý tưởng có tính bắt buộc” (Weber 1949, 57). Những phán đoán-giá trị phần nào là nhiệm vụ và trách nhiệm của một con người hành động. Tiêu chuẩn nền tảng của những phán đoán-giá trị hẳn là một vấn đề về lương tâm và niềm tin, chứ không phải là về nhận thức thường nghiệm.[6] Weber cho rằng: “Về việc liệu người diễn tả những phán đoán-giá trị này nên gắn bó với những tiêu chuẩn cơ bản ấy có là việc thiết thân của mình hay không, thì điều ấy bao gồm ý chí và lương tâm, chứ không bao gồm nhận thức thường nghiệm. Một khoa học thường nghiệm không nói ai đó phải làm gì” (1949, 54).
Như vậy, nghiên cứu này bác bỏ những phương pháp luận phán đoán-giá trị của Durkheim và Marx. Durkheim bàn tới điều gì là tốt và điều gì là xấu cho xã hội, và tiêu chuẩn nào nên được sử dụng cho phán đoán về một xã hội lành mạnh hay những xã hội bệnh lý. Ông minh nhiên bác bỏ khoa học nào không thể “dạy cho ta biết mục đích nào cần được theo đuổi” (1938, 47). Ông cố gắng đưa ra “cái mục đích tối hậu” của những sự kiện xã hội “để xác định cái gì không đáng muốn mà xác định cái gì đáng muốn” (1938, 47). Phương pháp luận của Marx ấn định quá đáng cái gì phải tồn tại và hiệu lệnh sự đấu tranh cho lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản. Marx tuyên bố: “Đối với chúng tôi, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái phải được thiết lập, cũng không phải là một lý tưởng mà hiện thực sẽ phải điều chỉnh chính nó. Chúng tôi gọi chủ nghĩa cộng sản là phong trào hiện thực, và phong trào này xóa bỏ cái tình trạng hiện thời” (1978, 162).
Đây “không còn là một vấn đề về biện pháp giải quyết thực tại thường nghiệm hoàn toàn mang tính lý thuyết với khía cạnh những giá trị mà là những phán đoán-giá trị” (Weber 1949, 98). Marx “pha trộn” một đòi hỏi đạo đức” với “một cách nhìn trừu tượng được rút ra từ quá trình thường nghiệm” (Weber, 1949, 95). Cả Durkheim và Marx đều khẳng định rằng những phán đoán-giá trị là vấn đề của lý tính và nhận thức thường nghiệm, chứ không phải là vấn đề về niềm tin và lương tâm của một cá nhân riêng lẻ. Thuyết duy trí này về những phán đoán-giá trị là đối tượng mà nghiên cứu này phải nỗ lực bác bỏ.
2.5. Những phán đoán-giá trị và những quan hệ-giá trị
Tuy nhiên, yêu sách nghiên cứu phải thoát ly khỏi những phán đoán về giá trị không có nghĩa là những quan hệ-giá trị (Wertbeziechungen) phải bị gạt ra khỏi phân tích khoa học.[7] Ý nghĩa của xã hội văn hóa bắt nguồn từ những quan hệ-giá trị cụ thể của nó. “Sự sắp xếp trong tư duy” về thực tại thường nghiệm sao cho có nghĩa chỉ có thể có được trong quan hệ với những ý niệm-giá trị của nó. Nếu không quan hệ với một ý niệm-giá trị có ý nghĩa, thì một mô tả chi tiết về những sự kiện thường nghiệm không tạo ra nghĩa. Ta phải chọn lấy những sự kiện có ý nghĩa được quan hệ với những ý niệm-giá trị để tạo ra trật tự của thực tại thường nghiệm. Weber cho rằng sự nhận thức có nghĩa đến từ những ý niệm-giá trị chủ quan của người nghiên cứu điều tra: “Nếu không có những ý niệm-giá trị chủ quan của người nghiên cứu điều tra, ắt sẽ không có nguyên tắc lựa chọn vấn đề, không có nhận thức có nghĩa về thực tại cụ thể” (1949, 82).
Một sự lựa chọn những sự kiện xã hội được định hướng về giá trị; mỗi sự lựa chọn được tiến hành dựa theo ý niệm-giá trị riêng của nhà nghiên cứu. Weber cho rằng giả định về những sự kiện xã hội xét như là sự kiện xã hội là sự tự-dối mình: “Nếu quan niệm rằng những lập trường này [những giá trị văn hóa] có thể được dẫn xuất từ chính những sự kiện liên tục xảy ra, đó là vì sự tự-dối mình ngây thơ của nhà chuyên môn, là người không ý thức rằng đó là vì những ý niệm-giá trị” (1949, 82).
Do đó, nghiên cứu này bác bỏ tiền giả định của Durkheim rằng có “những sự kiện xã hội như là những sự vật”, và những sự kiện này “tồn tại độc lập ở bên ngoài ý thức cá nhân” (Durkheim 1938, 30).
Các yêu sách về sự phân tích thoát ly khỏi phán đoán giá trị, và mặt khác, về sự lựa chọn các sự kiện thường nghiệm dựa theo những ý niệm-giá trị riêng, bộc lộ không chỉ mâu thuẫn mà là sự căng thẳng không thể tránh được giữa sự nhận thức thường nghiệm và lòng tin vào những giá trị. Xin lặp lại, nghiên cứu này không đưa ra giải pháp, mà chỉ cố gắng tuyên bố công khai những vấn đề của những khoa học xã hội.
2.6. Một phương pháp cá nhân luận
Những yêu sách trên, tuy nhiên, cũng tiền giả định giá trị khách quan của nhân cách cá nhân, là cái tạo ra những phán đoán-giá trị và đưa ra những quyết định về hành động xã hội dựa theo lương tâm và lòng tin của riêng nó. Weber nói: “Chúng tôi coi là có giá trị khách quan những yếu tố nội tâm nhất này của nhân cách, những phán đoán về giá trị cao nhất và cơ bản nhất cái quyết định hành vi của ta và mang lại nghĩa và ý nghĩa cho cuộc sống của ta (1949, 55).
Yêu sách này đối lập với giả định của Durkheim rằng “lương tâm tập thể” tạo ra những phán đoán-giá trị và đưa ra những quyết định về hành động xã hội thay vì một lương tâm cá nhân. Định nghĩa lương tâm tập thể như là “toàn bộ những tương tự xã hội”, Durkheim thấy rằng lương tâm tập thể thực hiện chức năng buộc những thành viên của một xã hội phải tuân theo “những tương tự” của nó (1933, 80). Ông nói: “Ngay khi những trạng thái trái ngược của lương tâm tự làm suy yếu nhau, những trạng thái đồng nhất của lương tâm, trong trao đổi, lại bắt buộc tuân theo trạng thái lương tâm khác. Nó có thể áp đặt chính nó đối với chúng ta (1933, 99).
Nghiên cứu này đối lập hẳn với giả định như thế của Durkheim về lương tâm tập thể. Trách nhiệm của hành động xã hội là của một cá nhân bởi vì cá nhân ấy tạo ra phán đoán-giá trị và hành động bằng ý chí riêng của mình. Nếu một người đã hành động vượt quá mức quyết định của mình, như một người tàn phế về mặt tinh thần chẳng hạn, thì anh ta không thể chịu trách nhiệm về hành động của mình bởi vì đó không phải là quyết định của anh ta. Trách nhiệm của phán đoán-giá trị và của hành động tiền giả định ý chí và tự do của cá nhân, chứ không phải của nhân cách tập thể.
Con người không phải chỉ là những động vật xã hội hành xử theo tập thể và theo chức năng và bị ngự trị bởi những quy luật về nhu cầu và lợi ích, mà còn là những cá nhân văn hóa hành động theo những ý niệm-giá trị và những điều có nghĩa (meanings) của mình bằng ý chí và lòng tin của chính mình. Weber tuyên bố: “Chúng ta là những sinh vật văn hóa, được phú cho năng lực và ý chí để đưa ra quan điểm có cân nhắc về thế giới và làm cho nó thêm phần ý nghĩa” (1949, 81).
Như vậy, cá nhân là chìa khóa thứ nhất của phương pháp luận của Weber: “Xã hội học lý giải xem xét cá nhân và hành động của cá nhân như là đơn vị cơ bản” (1946, 55).[8]
2.7. Xã hội học về sự hiểu
Sự hiểu là chìa khóa thứ hai của phương pháp luận của Weber, nghĩa là, “sự hiểu bằng lý giải về hành động xã hội và do đó bằng một sự giải thích nhân quả về quá trình và những hậu quả của nó” (1968, 4). Trong hệ thuật ngữ của Weber, sự hiểu hình thành từ sự sắp đặt trong tư duy về thực tại thường nghiệm dựa theo những phạm trù về nghĩa.[9] Nếu không có phạm trù nghĩa, thì sẽ không có sự hiểu (Weber 1982, 180). Phạm trù nghĩa bao gồm sơ đồ phương tiện-mục đích. Weber nói: “Cái gì là khả niệm hay có thể hiểu được về nó [nghĩa] do đó là quan hệ của nó với hành động con người trong vai trò (con nua..)
Về Đầu Trang Go down
 
PHUONG PHAP LUAN CUA WEBER TRONG NGHIEN CUU XA HOI HOC (Phan 1)
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Mỗi ngày 1 câu hỏi thi tốt nghiệp
» Ôn thi tốt nghiệp khoa ĐKTB
» Khẩu lệnh lái trên tàu
» Các phương pháp cập cầu
» Thiết bị lái tàu thủy

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: HỌC TẬP :: CHUYÊN NGÀNH XÃ HỘI HỌC-
Chuyển đến