Trang ChínhCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Chúc lớp trưởng một ngày bình yên, êm ấm bên người mà mình yêu. Nhưng nhớ đừng làm gì quá giới hạn của nó Giởn thôi ko biết lớp trưởng nhà ta có em nào chưa nửa ^^ Thay mặt chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội, các bộ trưởng, các ban ngành, 84 triệu người VN, 6 tỷ dân trên thế giới, chúc mừng ...Chúc Mừng Sinh Nhật Các Bạn XHHK33 «´¨`•..¤ Nguyễn Thanh Hà 05-05-1990 ¤..•´¨`» Giáp Thanh Phúc 13-05-1988 (¸.•'´(¸.•'´¤Lương Thị Thiếp 29-05-1989 ¤`'•.¸)`'•.¸) Huỳnh Đình Tuấn Vũ 01-05-1991 «´¨`•..¤Huỳnh Đình Tuấn Vũ 01-05-1991¤..•´¨`» thanh cong
Very Happy CHÀO CÁC BẠN,VÌ LÝ DO RIÊNG THỜI GIAN VỪA QUA VÌ NHIỀU CÔNG VIÊC MINH KO THỂ DÀNH NHIỀU TIME ĐỂ XÂY DỰNG DIÊN ĐÀN ĐC.THỜI GIAN NÀY MONG ĐC GIÚP ĐỞ CỦA CÁC THÀNH VIÊN VỀ MẶT NỘI DUNG ĐỂ XÂY DỰNG DD XÃ HỘI HỌC NGÀY CÀNG LỚN MẠNH.Twisted Evil
ĐÔI BÓNG XHH MUÔN NĂM CHÚNG TÔI LUÔN CỖ VŨ HẾT MÌNH...TỰ TIN CHIẾN THẮNG.HIHI XÃ HỘI HỌC VÔ ĐỊCH ^^ thanh cong

Share | 
 

 XA HOI HOC PHAT GIAO (phan 2)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
tuanlong
Super mod


Tổng số bài gửi : 159
Reputation : 4
Join date : 20/12/2009
Age : 26
Đến từ : HUE, LOP XHH-K33, ĐHKH-HUE

Bài gửiTiêu đề: XA HOI HOC PHAT GIAO (phan 2)   Fri Oct 08, 2010 6:22 pm

quy tụ những gì tìm thấy từ cách ngành khoa học, nhất là các lãnh vực khoa học xã hội. Những khái niệm về phạm vi và phận sự xã hội học như thế nhìn chung nhất quán và vẫn được chấp nhận phổ biến, tuy nhiên, chúng chỉ là một phần trong toàn bộ lý thuyết chung cho các lãnh vực liên ngành và chuyên ngành thuộc xã hội học.

Lãnh vực liên ngành xã hội học lâu đời nhất và quan trọng nhất là tâm lỳ học xã hội. Nó thực sự xem như một môn học độc lập, thu hút nhiều người từ cả hai xã hội học và tâm lý học. Trong lúc các nhà tâm lý học quan tâm đến các tác động của những lãnh vực này trên cá nhân riêng lẽ, thì các nhả xã hội học quan tâm đến chuẩn mực, giá trị xã hội, vai trò xã hội, các cơ quan xã hội, cơ cấu tổ chức các tập đoàn. Những nhà tâm lý học mà mở đường nghiên cứu mối tương tác trong các nhóm nhỏ; sự phân bố niềm tin và thái độ sống trong dân cư; gia đình, học đường, đồng bạn, và những trung gian hội nhập xã hội khác ảnh hưởng tiến trình hình thành phân cách. Những ý niệm phân tâm học phát nguồn từ Sigmond Freud và các nhà phân tâm về sau giữ vị trí cực kỳ quan trọng trong lãnh vực tâm lý học xã hội.

Vào những năm gầy đây, xã hội học so sánh lịch sử rõ rang phát triển mạnh, chịu nảh hưởng sâu nặng quan điểm của cả hai Marx và Weber. Nhiều nhà sử học đã vay mượn khái niệm xã hội học; cùng lúc, những nhà xã hội học cũng thực hiện những nghiên cứu qui mô về so sánh lịch sử (historical comparative). Những rào cản xã hội học và lịch sử đã sụp đổ, đặc biệt là những lãnh vực lịch sử xã hội, đổi thay nhân khẩu, sự phát triển kinh tế và chính trị, và xã hội học về những cuộc cách mạng xã hội, các phong trào phản kháng.

Hầu như tất cả hoạt động của con người không tác rời khỏi xã hội nên đối tượng chuyên môn hang đầu khác của xã hội học là bàn về cấu trúc của xã hội trong quan hệ con người, bao việc giảng dạy và nghiên cứu các mặt xã hội khác nhau như chính trị, mộ máy điều hành nhà nước, luật pháp, tôn giáo, giáo dục, quân đội, nghề nghiệp, công nghiệp, xã hội, ngôn ngữ (ngôn ngữ học xã hội), y học, thông tin truyền thông, và thể thao. Mỗi lãnh vực khác nhau hoàn toàn, phát triển thành chuyên ngành và lôi cuốn nhiều người chuyên môi hóa ngành họ theo đuổi. Xưa nhất trong bộ môn xã hội học là những lãnh vực tập trung trên hiện tượng xã hội, những lãnh vực chưa có các bộ môn khoa học khác nhận như đối tượng nghiên cứu, bao gồm hôn nhân-gia đình, bất bình đẳng xã hội và giai tầng xã hội, những quan hệ đạo đức, hành vi tiêu cực, những cộng động thành thị, cũng bao gồm bình diện xã hội liên quan vấn đề lão hóa và giới tính, tình dục.

Khi những lãnh vực nào đó thực thuộc xã hội học đạt tiếng tăm, người ta tháp ghép chúng vào một lãnh vực hỗn hợp, chẳng hặn, lãnh vực xã hội học công nghiệp (industrial sociology) trở thành môn học ưa thích ở Mỹ suốt thập niên 30-40, về sau được nhập vào lãnh vực nghiên cứu và các tổ chức công nghiệp liên hợp (the study of complex organizations). Còn ở Anh, môn học này vẫn phát triển độc lập. Mội hiện tượng càng phổ biến là việc tánh lãnh vực trực thuộc xã hội học thành những phân hiệu hẹp hơn, chẳng hạn, xã hội học tri thức (sociology of knowledge) được phân chia manh mún thành những ngành xã hội học về khoa học, nghệ thuật, văn học, văn hoá bình dân, ngôn ngữ. Có trường hợp xã hội học triển khai phạm vi nghiên cứu sang các môn học khác để lôi kéo những thành phần tương thích về phiá xã hội học. Điển hình, tối thiểu hai lãnh vực nhân khẩu học và hội phạm học - vốn kết hợp với những môn học khác tồn tại trước khi có lãnh vực chính xã hội học – nay nằm trong trường hợp này. Ở một số nước, nhân khẩu học (nghiên cứu về sự phát triển, phân bố dân số) còn giữ mối liên hệ gần với kinh tế, nhưng ở gần hết các nước phương Tây, và đặc biệt ở Mỹ, nó được xem như một phân hiệu xã hội học. Tội phạm học qua ngàn thập niên chịu ảnh hưởng những khái niệm và phối cảnh xã hội học càng khắng khít với những nghiên cứu xã hội về hành vi sái quấy, lầm lạc, kể cả những hình thức không vi phạm Pháp Luật nhà nước.

Một số lãnh vực như xã hội học thể thao, giới tính mới ra đời hậu bán thế kỷ 20, trong khi tôn giáo là giữa vài lãnh vực được phương Tây nghiên cứu suốt bốn thế kỷ trườc. hiều nhà tư tưởng thế ký 16-18 nghiên cứu tôn giáo chủ yếu dựa nguồn Thánh Kinh, thực tiễn hoạt động của giáo hội Ky Tô và các tài liệu Do Thái giáo. Nhờ những cuộc tham hiểm, viễn chính, mở rộng thương mại, phương Tây lần hồi khám phá hiện tượng văn hoá-tôn giáo tồn tại phổ biến khắp thế giới. Có hang ngàn tôn giáo, nhưng tám tôn giáo hang đầu là đạo Thiên Chúa (Christianity), đạo Hồi (Islam), đạo Ấn (Hinduism), đạo Phật (Buddhism), đạo Lão (Taoism), đạo Khổng (Confucianism), đạo Do Thái (Judaism), đạo thờ Ông Bà Tổ Tiên (Shinto). Từ cuối thể kỷ 18, phương Tây bằt đầu chuyển dịch tài liệu của các tôn giáo ở phương Đông, đồng thời, những thành tựu của ngành khảo cố trong việc khai quật những bản văn kinh điển ra xưa mà giải mã cổ ngữ đã góp phần giúp phương Tây tập họp số lượng thông tin tương đối về các tôn giáo ngoại vi văn hoá Ky Tô. Khi nghiên cứu tôn giáo, các nhà triết học, tâm lý học, sử học, nhân chủng học chủ trương tiếp cận đối tượng với tinh thần khách quan, thuần túy xem tôn giáo là đối tượng nghiên cứu học thuật, không cục bộ ủng hộ bất cứ giáo phái nào; cũng có một lực lượng nào học giả nghiên cứu tôn giáo nhẳm mục đích làm thuận lợi cho công cuộc truyền đạo.

Việc nghiên cứu tôn giáo một cách có hệ thống chỉ thật sự phát triển khoảng giữa thế kỷ 19. Giới nghiên cứu cho rằng hầu hết tôn giáo chia sẻ năm đặc trưng: (1). Niềm tin thần linh hoặc quyền lực siêu nhiên; (2). Giáo lý giải thoát; (3). Nguyên tắc đạo hạnh hay luật nghi; (4). Những giai đoạn thiêng liêng; (5). Lễ nghi tôn giáo. Để hiểu từng đặc trưng riêng biệt và giao điển giữa các truyền thống tinh thần Đông Tây, học giả Đức Friedrich Max Miller đề xuất so sánh tôn giáo. Ý tưởng này đăt nền tảng môn học so sánh tôn giáo (the study of comparative religion). Thêm vào bộ phận kiến thức tôn giáo, các nhà phân chủng học chịu khó thực hiện những công trình biên khảo liên quan đời sống tôn giáo bộ lạc của những dân tộc vốn bị xem là mọi rợ và bị phớt lờ trong thế giới văn minh đã cho nhà nghiên cứu có tầm nhìn bao quát hơn về vai trò tôn giáo trong toàn bộ xả hội loài người.

Chúng ta dễ thấy tôn giáo thường gắn liền với văn hoá nhân loại. Tôn giáo bộ lạc loài hoà tan vào màu sắc văn hoá bộ lạc. Đạo Do Thái, Hồi, đặc biệt đạo Thiên Chúa tạo hình văn hoá phương Tây; riêng đạo Hồi còn giữ vai trò trọng yếu kiến tạo văn hóa vùng Trung Đông và nhiều quốc gia Châu Phi. Văn hoá châu Á, nói chung, bao gồm các yếu tố đạo Ấn, Hồi, Phật, Lão, Khổng, Ông Bà Tổ Tiên, dầu vậy, văn hóa từng quốc gia tùy thuộc mức độ tôn giáo nào có tác động nhiều hay ít đến lịch sử, kết quả là sự phân tầng văn hóa tôn giáo hoặc dung hợp các yếu tố. Có thể nghiên cứu tôn giáo tách rời khỏi văn hoá, tuy nhiên trong thực tế, tôn giáo, và văn hóa bất phân ly. Chính hành vi, ngôn ngữ, tư tưởng của mỗi cá nhân và đoàn thể, cộng đồng sản sinh ra tôn giáo, tạo cho tôn giáo một đời sống và trao quyền hướng dẫn các kiểu mẫu hành vi, ngôn ngữ, tư tưởng theo giá trị truyền thống mà con người đã kinh qua. Những giá trị đó được xem là kinh nghiệm tôn giáo, phản ảnh qua biểu tượng, múa hát, chuyện thần thoại, hoang đường, lễ nghi, hay những kinh nghiệm cao hơn các hệ thống triết lý uyên thâm, luật tắt điều chỉnh đạo hạnh, kỹ thuật thiền định v.v. Tất cả kinh nghiệm tôn giáo nói trên đều mang hình thái văn hoá.

Dù tôn giáo được nghiên cứu dưới lăng kính nhân chủng học hay bất kỳ ngành học thuật khác, nó vẫn không vượt ngoài phạm vi quan sát của xã hội học, trái lại, gia cố lý thuyết xã hội tôn giáo. Từ cuối thể kỷ 19 sang những thập niên đầu thế kỳ 20, hai nhà xã hội học Émile Durkheim và Max Weber lần lượt công bố các công trình nổi tiếng liên hệ tôn giáo và xã hội: Division of Labour (1893), The Protestant Ethic anh the Spirit of Capitalism (1904-1905), Elementary Forms of the Religious Life (1912), Religions of the East (1920-1921). Tác phẩm Division of Labour (1893) của Émile Durkheim đã chỉ ra thuộc tính thống nhất cơ học trong tôn giáo góp phần hợp nhất một tập thể hay cộng đồng. Émile Durkheim còn nhấn mạnh đời sống tôn giáo trong Elementary Forms of the Religious Life (1912) như một sức mạnh cần thiết để thực hiện chức năng xã hội.

Theo ký thuyết kinh điển này, Émile Durkheim quả quyết rằng dấu ấn căn bản nhất của tôn giáo không phải bóng dáng thần linh, siêu nhiên, mà là bất cứ đối tượng và biểu tượng hóa thiêng chuyển tiếp hòa vào ý thức của một nhóm người cùng tín ngưỡng, chúng được xem như giá trị tinh thần nhào nặn cảm xúc tôn giáo giữa các thành viên chung sống, do vậy, tính chất thiêng liêng có chức năng kết nối xã hội. Đối tượng và biểu tượng hóa thiêng là những nguyên tắc đạo đức, những gì một cộng đồng đặt lòng tin vào và cố gắng không vi phạm các giá trị hay gìn giữ các giá trị cộng đồng không bị xâm hại. Chính tính chất thiêng liêng tạo nên lực hút nhiếu người hợp thành các cộng đồng xã hội tôn giáo, chúng ta cũng có thể đem tính chất đó lý giải những mô hình xã hội thế tục tồn tại song song. Tại xã hội thế tục phương Tây, điều thiêng liêng được thể hiện qua những tiêu chuẩn mực đạo đức để cao tính dân chủ, tự do, quyền cá nhân, công bằng bình đẳng, dù mỗi người có niểm tin tôn giáo khác nhau hay theo chủ nghĩa phi tôn giáo (secularism); những gì xã hội thế tục phương Tây xem là thiêng liêng lại biến sắc tại các xã hội thế tục chịu ảnmh hưởng xã hội tôn giáo, hoặc do một Đảng độc quyền thống trị đã thiêng liêng hóa tính Đảng bền vững bao trùm cơ cấu xã hội. Quan điểm của Émile Durkheim vế tính chất thiêng liêng vận hành chức năng xã hội cốt làm sang tỏ vai trò tôn giáo hơn là bình phẩm giá trị truyền thống đúng hay sai. Một sự thật được khám phá bằng lý luận khách quan như thế đã hạn chế mọi bàn cãi không cần thiết.

Cũng trong nỗ lực khám phá vai trò tôn giáo, Max Weber đặc biệt nhấn mạnh yếu tố đạo đức ảnh hưởng đến kinh tế & đời sống xã hội. Nguyên là giáo sư kinh tế-sử học, ông sớm nhận ra luận thuyết đơn tử của Karl Marx & nhà kinh tế-chính trị Friedrich Engels chứa đựng sai lầm nghiêm trọng ngay nhận thức cơ bản về lịch sử xã hội, điều đó thúc đẩy ông viết The Protestant Ethic and the Spirit of Capitalism ((1904-1905). Qua phân tích lịch sử phương Tây, Max Weber khẳng định có những mối quan hệ nội tại tác động lẫn làm cho đời sống xã hội biến đổi, trong đó, tôn giáo là một trong nhiều yếu tố tổng hợp sản sinh hình thái xã hội mà còn gốc rễ của yếu tố khác, điểnn hình như phẩm chất & sự thịnh vượng của nền kinh tế chủ nghĩa tư bản chuyển hóa từ đạo đức đạo tôn giáo.

Sẽ không có gì đáng nghi ngờ quan điểm Max Weber, nếu chúng ta biết chính sự phảng kháng (protest) của những phần tử Thiên Chúa (Christianity) ly khai khỏi Công Giáo La Mã (Roman Catholicism) vào thể kỷ 16 đã mở đạo Tin Lành (Protestanism). Đó là mội trong trào cải cách phục hồi lý tưởng Thiên Chúa, chỉ chấp nhận thẩm quyền Thánh Kinh & xem trọng nềm tin cá nhân. Tư tưởng phản khảng của các nhà thần học Martin Luther, Huldreich Zwingli, John Calvin… dẫn đến việc thành lập các giáo phái Lutheran (Evangelical), Calvinist, Anabaptist, Puritan, Anglican thuộc cộng đồng đạo tin lành (Protestanism). Họ mạnh mẽ chỉ trích những sai lầm, phủ nhận quyền hạn Giáo Hoàng & nhà thờ Công Giáo La Mã tối cao, phơi bày tệ nạn các chức sức Tăng lữ sống xa hoa v.v.. Dù muốn hay không, hai yếu tố tôn giáo & chính trị vẫn xoắn xuýt nhau chọc kích sự liên minh ma quỷ giữa chính quyền & tôn giáo, nó truyền cảm hang loạt sự kiện nông dân khởi nghĩa tại Đức, Áo (1524-1526) chống đối tầng lới qúy tộc & phú Tăng Công Giáo La Mã vô đạo, ác liệt nhất là 30 năm chiến tranh (1618-1648) trên lục địa châu Âu & cuộc Cách Mạng Anh (1640-1660). Các nhà thần học cấp tiến khác nhu John Aston, Jacobus Arminius, John Wesley, John Charles, Edward Herbert, John Toland, & Charles Blountm Friedrich Schleiermacher… hồ hởi hòa điệu cùng phong trào Ánh Sáng khi công khai chấp nhận những tư tưởng khoa học, lỳ giải thần học theo khuynh hướng duy lý, nhìn chung, họ thẳng thắn phủ nhận ba ngôi chí tôn (Trinity), niềm tin Đấng Cứu Thế chuộc tội lỗi, thiên khải, thần lực, chống lời dạy giáo điều… Khuynh hướng duy lý này tình thành một số giáo phái mới Arminianism, Latitudinarianism, Deism, Unitarianism, Methodism, Quakerism (Religious Society of Frìends), Liberalism (Liberal Theorian) phát triển mạnh ở châu Âu & Bắc Mỹ. Cộng đồng Tinh Lành còn giữ vai trò quan trọng trong những phong trào nhân đạo & cải tổ xã hội. Tín đồ Phúc Âm (Evangelical Protestant), một giáo phái chịu ảnh hưởng tư tưởng Martin Luther, được xem là những nhà lãnh đạo đấu tranh giài phóng chế độ nô lệ tại Anh, Mỹ.

Sự phát triển nhanh chóng của cộng động Tin Lành cuộn lên những cơn sóng chính trị-tôn giáo sôi động từ thế kỷ 10-19 thật sự làm lung lay tận gốc rễ quyền lực Công Giáo La Mã & chính quyền phong kiến phương Tây đương thời, nó hỗ các nhàn khoa học tự do phát biểu, nghiên cứu mà không phải lo sợ trái với Thánh kinh sẽ bị nhà thờ Công Giáo La Mã thiêu sống hay xét xử độc đoán. Bối cảnh lịch sử phương Tây như thế trở thành điều kiện cần cho cuộc Cách Mạng Công Nghiệp thay thế lao động thủ công bằng phương tiện mát móc, ứng dụng hệ thống kiếm thức khoa học thực nghiệm vào quá trình sản xuất mang lại nhiều đổi thay trong xã hội, khởi điểm ở Anh vào nữa thế kỷ 18, kế tiếp lan rộng ở những phần châu Âu, Hoa Kỳ, đó là bước đầu tiến đến nền kinh tế được Marx-Angel gọi là chủ nghĩa Tư Bản.

Nhận xét của Max Weber về đạo đức tôn giáo có khả năng tác động đến kinh tế & xã hội khiến các nhà tư tưởng phương Tây phải bình tâm xét lại vai trò tôn giáo, thay vì tập trung phê phán, một thái độ chống đối tôn giáo từ Pháp đến Nga trải suốt 4-5 thế kỷ; đồng thời là một gáo nước lạnh tạt vào mặt phái tả cùng các trò Marx-Engels, những người chủ trương kinh tế quyết định (theory of economic determination). Max Weber tiếp tục biện minh quan điểm trong tác phẩm Religions of the East (1920-1921) phân tích đạo đức tôn giáo phương Đông, bao gồm Phật giáo, quan hệ với kinh tế-xã hội.

Như một sự thật lịch sử, khi đạo Tin Lành & văn minh công nghiệp phương Tây khởi lên, Phật giáo tồn tại hơn hai thiên niên kỷ, mãi đến thế kỷ 19 vài nhà trí thức phương Tây mới quan tâm nghiên cứu Phật giáo. Có những bằng chứng lịch sừ-khảo cổ ủng hộ giả thuyết châu Âu từng tiếp nhận Phật giáo từ thế kỷ thứ IV-III trước công nguyên, tức là vào thời kỳ đại đế Alexander thối binh khỏi Bắc Ấn (325 B.C.); kế tiếp là các sứ giả thời đại đế Asoka (269-232 B.C.) thuộc triều Maurya (321-185 B.C.) ờ Ấn đã mang thông điệp hòa bình của đức Gotama vượt Egypt sang Macedonia. Hellen (Hy Lạp ngày nay) & các vương quốc Đông Nam Âu cổ đại, có lẻ không chỉ Marco Polo, nhiều thương gia phương Tây khác cũng biết đến Phật giáo tồn tại qua con đường tơ lụa nối liền thương mại Âu Á suốt thế kỷ I trước công nguyên đến thế kỷ 15; hoặc giả đoàn quân Mông Cổ của Ogadai Khan (1229-1242) đã mang món ăn tâm linh Phật giáo theo những chặng đường ly hương chinh phục trung Âu thế kỷ 13. Dầu vậy, Phật giáo không thể tìm chổ bám rễ trong đời sống tư tưởng dân chúng phương Tây, ngoài trừ số ít người gốc Nga & Ukaraina địch cư ở Buryatia & Tuva-hai nướv cộng hòa tự trị thuộc liên bang giáp giới Mông Cổ - theo Phật giáo Lama từ thế kỷ 17.

Phần tư đầu thế kỷ 19, phương Tây bắt đầu nghiên cứu Phật giáo. Vị học giả phương Tây thực hiện những nghiên cứu liên quan Phật giáo trước nhất được biết là Michael Jean Francois, người Pháp, với tác phẩm Researches sur Buddlou xuất bản ở Paris năm 1817, nhờ The World as Will Representation của Arthur Schopenhauer (1788-1860), một triết gia Đức có nhiều ảnh hưởng tại Âu Mỹ. Arhur Schopenhauer giữ quan điểm vô thần, thế giới không phải do thần linh hay thượng đế sáng đạo, con người & tự nhiên là sản phẩm của “will” – ông dùng thuật ngữ này ám chỉ cả hai khát vọng cá nhân & toàn bộ bản chất sinh thể thôi thúc thế giới không ngừng nỗ lực tầm cầu hạnh phúc, kho loài người không thỏa mãn với hạnh phúc thì đó là khổ đau khôn cùng. Chỉ có sự thản nhiên từ bỏ khát vọng tầm cầu hạnh phúc mới đạt được chân hạnh phúc. Ông nói nhiều đến khổ đau gặm nhấm loài người trong tác phẩm Essays and Aphorism. Để kiểm chứng quan điểm triết học, Arthur Schopenhauer thừa nhận Phật giáo như tiêu chuẩn tuyên ngôn sự thật & thú vị nhận ra tư tưởng mình ngẫu nhiên gần gũi Phật giáo.

Giao điểm tư tưởng giữa Arthur Schopenhauer & Phật giáo được chính ông khám phá qua mẳng triết học Ấn Độ trình bày trong các sách giáo khoa Đức, những tác phẩm nghiên cứu của các học giả Nga, Pháp, riêng bản thân ông chưa tham khảo bất cứ văn bản kinh điển bào thuần túy chuyển tải tư tưởng Phật giáo. Thậm chí khi Arthur Schopenhauer tái bản The World as Will Representation lần thứ ba (1859), phương Tây mới có vài dịch phẩm Phật giáo chính thức tiêu biểu: 38 chương đầu của 100 chương Mahavamsa - một tác phẩm lịch sử ghi chép nguồn gốc & sinh hoạt Phật giáo Sri Lanka - viết bằng ngôn ngữ Pali được Eugene Burnouf nhà Đông Phương học Pháp dịch sang tiếng Anh (1837); cũng Eugene Burnouf đã dịch Saddharmapundarika từ văn bản Sanskrit sang tiếng Pháp Le lotus de la hone loi (1582); giáo sư Friedrich Spiegel trích dịch phần Uraga của Sutta Nipata xuất bản tiếng Đức có nhan đề Anecdota Palica (1848); & một bản dịch Latin Dhammapada do Viggo Fausball - người cha Triết học Pali ở Đan Mạch - thực hiện (1855). Thiếu tài liệu Phât giáo là trở lại lớn nhất đối với phương Tây thế kỷ 19. Số lượng học giả vượt qua bức tường ngôn ngữ dọc hiểu chính văn kinh điển có thể đếm trên đầu ngón tay, công chúng ít quan tâm sự hiện diện của Phật giáo. Đợi đến 19 năm sau Arthur Schopenhauer qua đời (1860), Sir Edwin Arnold xuất bản The Light of Asia, một thi phẩm viết về cuộc đời & tư tưởng Phật Gotama, thật sự lôi cuốn công chúng chú ý tìm đọc, trở thành hiện tượng ấn phẩm Phật giáo phổ biến nhất. Kết quả đó đã khuyến kích giáo sư Thomas William Rhys Davids xúc tiến thành lập hội Thánh Điển Pali (Pali Text Society) vào năm 1881 mời gọi các học giả Đông Tây giúp sức chuyển dịch kinh điển Phât giáo sang Anh ngữ để quảng bá tư tưởng Phật giáo giữa công chúng Âu Mỹ.

Điều trớ trêu đáng nói là từ sự xuất hiện The World as Will Representation, các nhà tư tưởng Âu Mỹ xem Arthur Schopenhauer như người lập chủ nghĩa bi quan (pessimism), vô hình trung ấn tượng Phật giáo buổi đầu chẳng gì khác dòng tư tưởng bi quan Arhur Schopenhauer. Thêm vào, các nhà Đông phương học hang đầu bấy giờ gồm Monier Monier Williams, Jules Barthelemy Saint-Hilaire, Charles Gutzlaff, Adolph Thomas, ngay cả Eugene Burnouf, một nhân vật được gìới học giả Phật giáo phương Tây quý trọng như người đặt nền tảng cho việc nghiên cứu Phật giáo một cách khoa học, đã nhận thức sai lệch tư tưởng Phật giáo, giải thích xuyên tạc lý tưởng Nirvana/Nibbana cứu cánh giải thoát tối hậu là hư vô, đoạn diệt (nihilism) & tiêu cực. Kết quả di hại khủng khiếp, vì không biết bao nhiêu nhiêu giấy mực phê phán hoặc phải biện minh Phật giáo là hay không là một thống giáo lý tiêu cực, nó tác động vào nếp nghĩ suy của những nhà trí thức & tầng lớp bình dân tại chính các quốc gia phương Đông tiếp nhận Phật giáo từ lâu.

Thời điểm T.W. Ryhs Davids thành lập hội Thánh Điển Pali ở London – cùng lúc Émile Durkheim giảng bộ môn xã hội học tại học đường Bordeaux, Paris – tính cho đến thời điểm Mar Weber viết Religions of the East (1920-1921) trải qua 40 năm, khoảng thời gian dài gần nữa thế kỷ đủ cho các nhà xã hội nghiên cứu những dịch phẩm Thánh điển Phật giáo rút ra những đánh giá đúng đắn mối quan hệ Phật giáo & xã hội. Thế nhưng việc đó không được họ thực hiện. Một lý do khác, suốt giai đoạn này, ông bà T.W. Rhys Davids, Max Muller, Hermann Oldenburg, Pau Dahlke, George Grimm, Paul Carus… những học giả tài giỏi tận tụy sống, làm việc, bênh vực Phật giáo thường chú dịch thuật, lý giải tư tưởng triết học, tâm lý, nhấn mạnh đăc tính đạo đức-giải thoát trong Phật giáo hoặc đối phó những cây bút chỉ trích đối lập, họ chưa đặt Phật giáo vào khung xã hội học, có chăng chỉ đề cập khía cạnh đạo đức-xã hội, chưa khai thác tôn tạo ý tưởng Phật giáo liên hệ các phương điện kinh tế-xã hội, chính trị-xã hội, sức khoẻ-xã hội, con người hội nhập xã hội. Do đó, những nỗ lực quảng bá Phật giáo không đánh bật được thành kiến phê phán Phật giáo như một hệ thống tư tưởng bi quan, yếm thế, tiêu cực, thụ động, hư vô, đoạn diệt, là những trạng thái tâm lý, khuynh hướng hoàn toàn bất lợi cho tiến độ công nghiệp hóa, đối chọi đặc tính kinh tế đòi hỏi tư tưởng sáng tạo, phát minh khoa học, cải tiến qui trình sản xuất, mở rộng giao thương, cơ thế kinh tế-thị trường vận hành năng động thúc đẩy xã hội thoát khỏi đói nghèo lạc hậu.

Thái độ phê phán Phật giáo được Max Weber phản ảnh trong Religions of the East, khi ông phân tích, giải thích nguyên lý đạo đức của các tôn giáo phương Đông đã làm trở ngại sự phát triển kinh tế & sự nâng cao đời sống xã hội, dù phương Đông không thiếu tài nguyên thiên nhiên hay nhân gây bức xúc cho giáo sư Nandasena Ratnapala, một trí thức phương Tây sinh trưởng tại Sri Lanka, cái nôi Phật giáo thế giới, phải đặt bút phê bình Max Weber ‘đã làm cuộc ngoạn du cởi ngựa xem hoa tư tưởng Phât giáo’ & sau Max Weber vẫn ‘chưa ai thật sự nỗ lực nghiên cứu tư tưởng Phật giáo dưới lăng kính xã hội học một cách nghiêm túc’. Ông minh chứng cho mọi người thấy rằng Phật giáo chẳng những có một học thuyết kinh tế nhân bản mà còn hội tụ một hệ thống ý tưởng xã hội hoàn toàn tương thích nhiều vấn đề thuộc phạm vi bộ môn xã hội hiện đại quan tâm, như một nhập xã hội, luật pháp, tội phạm & khủng bố, chính trị, sức khoẻ, hôn nhân gia đình, giáo dục v.v. qua ấn phẩm Buddhist Sociology-Xã Hội Học Phật Giáo, gồm 13 chương, tất cả quán xuyến nội dung khẳng định tư tưởng Phật giáo không siêu thực, không dẫn dắt con người vào thế giới viễn vong không tưởng xa rời cuộc sống.

Buddhist Sociology-Xã Hội Học Phật Giáo vừa trực tiếp trả lời câu thách đố của Mar Weber, cũng vừa gián tiếp gởi gắm lời nhắn nhủ các nhà tư tưởng Phật Giáo Bắc truyền lâu nay tự xưng Đại Thừa Phật Giáo hãy từ bỏ quan điểm chê bai Phật Giáo Nam truyển là Tiểu Thừa, mang lý tưởng giải thoát cá nhân, hẹp hòi, ích kỷ… Bởi, hầu hết toàn bộ nội dung Buddhism Sociology-Xã Hội Học Phật Giáo đều được tác giả Nandasena Ratnapala xây dựng trên nền tảng kinh điển Pali, hệ giáo lý chính thống lâu đời của Phật Giáo Nam truyền, không phải trên lý tưởng Bồ Tát nhập thể của các kinh Pháp Hoa, Duy Ma Cật. Một vấn đề khá nhức đầu là tại sao nhiều quốc gia Phật giáo hoặc chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật Giáo Nam truyển - Bắc truyền hàng bao thế kỷ vẫn bị xếp vào thế giới thứ ba chậm phát triền, lạc hậu, đói nghèo dai dảng, tình hình chính trị bất an triền miên? Ấn phẩm Buddhism Sociology – Xã Hội Học Phật Giáo đưa ra những giải thích gợi ý giúp các nhà lãnh đạo Phật giáo lẫn giới trí thức Phật giáo tự giải nghi hợp lý sau khi xét lại giáo lý nhà Phật & quan điểm cá nhân trong khối tâm lý cộng đồng Phật giáo.
Về Đầu Trang Go down
 
XA HOI HOC PHAT GIAO (phan 2)
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Giao lưu 2 Khóa 86 và 87TuNghia Nhân Ngày 20-11
» Con Lưu Ngọc Tuấn, Lê Hữu Sang, và Phan Nguyễn quốc Tú
» Cây si trên tàu- Gửi Phan Nguyễn Quốc Tú
» gởi chú Phan Nguyễn Quốc Tú
» Tổn thất chung - General Average

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: HỌC TẬP :: CHUYÊN NGÀNH XÃ HỘI HỌC-
Chuyển đến